Chương 1

Chương 1: Những bức thư - nước chanh ép và những nỗi thất vọng lớn

Vào một buổi sáng trong trẻo tháng Chín, khi hầu hết bọn trẻ cùng trang lứa ở trường nghiền ngẫm môn phân số và các dấu phẩy thập phân thì cậu bé Reynie Muldoon lại đang đi bộ dọc theo một con đường lớn đầy bụi bặm. Cậu là một đứa bé trai ưa nhìn - với đôi mắt và mái tóc màu nâu trung bình, chiều cao trung bình, khoảng cách giữa mũi và hai tai cũng chỉ ở mức trung bình. Và cậu bé hoàn toàn đơn độc. Ngoài một con chim ưng đang tung cánh vút lên phía trên con đường quốc lộ và vài chú chim chiền chiện đang cố giấu mình bay là là trên những cánh đồng bên kia đường, Reynie là sinh vật sống duy nhất có mặt ở đây.

Thoạt nhìn, Reynie trông có vẻ giống một đứa trẻ xa nhà đi lạc, nhưng chuyện đó chỉ đúng một nửa thôi. Ít nhất Reynie cũng thấy thật thú vị khi nghĩ vậy, vì hoàn cảnh hiện tại của cậu có thể miêu tả hoàn toàn bằng những từ “một nửa”: cậu đã đi xe nửa ngày đường từ ngoại ô Thành phố Đá đến đây; cách thị trấn gần nhất nửa dặm đường; và theo như người đàn ông chỉ đường thì hiện giờ cậu chỉ còn cách đích đến của mình một nửa dặm đường nữa thôi. Tuy nhiên điều quan trọng nhất là đã nửa năm rồi cậu chưa được gặp ba đứa bạn thân nhất của mình.

Reynie nheo mắt vì ánh mặt trời. Cuối con đường làng bẩn thỉu cách đó không xa, leo lên một ngọn đồi dốc đứng, như người đàn ông trong thị trấn đã nói, đó là đích đến của cậu. Trên ngọn đồi xa xa ấy cậu thấy một trang trại. Và ở đó cậu sẽ tìm thấy Kate Wetherall.

Reynie cố rảo bước nhanh hơn, đôi giày khua bụi tung mù mịt. Ôi, chỉ ít phút nữa thôi cậu sẽ được gặp Kate! Và Sticky Washington - Sticky cũng sẽ ở đây tối nay! Rồi ngày mai cả bọn sẽ lái xe về Thành phố Đá để gặp... xem nào, để gặp Constance Contraire, nhưng thế cũng chẳng sao. Ngay cả ý nghĩ Constance làm cậu bẽ mặt với những câu thơ vần điệu nhịp nhàng cũng khiến Reynie sung sướng. Constance có thể là một thiên tài thô-lỗ-trơ-tráo, nhưng cô bé là một trong số rất ít người trên thế giới này mà Reynie có thể coi là bạn bè thật sự. Constance, Kate và Sticky giống như là gia đình của cậu vậy. Cậu mới chỉ gặp bọn họ một năm trước thôi, nhưng có hề gì - tình bạn của nhóm đã nảy nở trong những hoàn cảnh vô cùng khác thường.

Nghĩ vậy Reynie bắt đầu chạy nhanh hơn.

Vài phút sau cậu đã đứng trên đỉnh đồi, hai tay chống đầu gối, thở hổn hển như chú cún con. Cậu tự cười nhạo mình. Rốt cuộc cậu đâu phải là Kate, người có thể chạy một mạch từ thị trấn đến đây mà không đổ một giọt mồ hôi nào. (Có khi cô bé còn có thể chạy trong tư thế trồng cây chuối nữa ấy chứ). Năng khiếu trời cho của Reynie chả liên quan gì đến thể chất - trong lĩnh vực này cậu cũng chỉ ở mức trung bình thôi. Cậu đưa tay quệt trán, vừa thở hổn hển vừa đưa mắt bao quát cả trang trại rộng thênh thang trước mặt.

Vậy đây là nhà của Kate: một ngôi nhà bình thường với kho thóc nhỏ, cả hai đều được quét sơn mới tinh, một cái xe tải cũ đỗ trong sân; một cái chuồng gà màu trắng bé tẹo; một bãi quây đầy cừu và dê, phía xa xa là những đồng cỏ trải dài nối tiếp nhau. Phía bên kia con đường nhỏ là một vườn cây ăn quả, một vài cây lấp ló những trái táo đỏ mập mạp, còn những trái khác thì chưa lớn lắm và rất khó nhìn thấy. Ở trang trại có rất nhiều việc phải làm, Kate đã nói vậy trong một lá thư. Và gần như đó là tất cả những gì cô ấy nói. Những lá thư của cô bé chẳng bao giờ dài dòng, nhưng luôn luôn vui vẻ. Thực ra là có hơi vui vẻ quá mức - đôi khi chúng làm Reynie cảm thấy như mình là người duy nhất thấy nhớ bạn bè.

Ngay lúc Reynie bắt đầu đi xuống đồi, một hồi chuông vang lên từ những trang trại phía dưới. Cậu đảo mắt khắp nơi hy vọng nhìn thấy Kate, nhưng chỉ thấy lũ dê cừu đang ùa khỏi bãi đất quây ra đồng cỏ. Reynie đờ người ra vì kinh ngạc. Cậu thề là đã nhìn thấy con dê cuối cùng ra khỏi bãi quây tự quay lại húc đầu đóng cánh cổng ra vào.

Reynie cau mày thắc mắc. Con dê có ý thức tự giác đó không phải là điều khác thường đầu tiên cậu trông thấy vào sáng nay. Nó khiến cậu nhớ đến điều gì đó khác nữa - một điều thật lạ lùng mà vì quá hào hứng nên cậu đã không để tâm mãi cho tới tận lúc này. Reynie đưa tay lên che mắt cho khỏi chói và quan sát bầu trời. Kia rồi, con chim ưng lúc nãy đang lượn tròn phía trên cao. Cậu có thể nhận ra nó, chỏm lông màu đen trên đỉnh đầu ăn khớp với hai bên lông mai dài đen bóng. Reynie không định tìm hiểu nhiều về chim chóc (dù thực tế cậu còn biết nhiều hơn khối người), nhưng cậu chắc chắn đây là một con thuộc giống chim cắt - mà trong vùng này, vào thời điểm này trong năm, chả mấy khi người ta nhìn thấy nó.

Reynie nhoẻn miệng cười rồi hối hả lao xuống đồi vào sân trang trại. Có điều gì đó kỳ lạ đang xảy ra và cậu không thể đợi để khám phá xem đó là gì.

Cái kho nằm gần hơn so với ngôi nhà nên Reynie đi tới và thò đầu vào qua hai cánh cửa mở để xem có Kate ở đó không. Đôi mắt đã quen với mặt trời chói chang nên phải mất một lúc cậu mới thích nghi được với bóng tối bên trong, nhưng khi đã quen rồi mắt cậu lập tức thấy một hình ảnh đáng vui mừng hơn cả.

Đuôi tóc vàng óng quen thuộc, đôi vai rộng và cái giỏ đồ đỏ như xe cứu hỏa kia. Không nghi ngờ gì nữa, cậu đã tìm thấy Kate. Cô bé đứng quay lưng về phía cậu, tay chống nạnh, nhìn chằm chằm lên bức tường phía xa. Reynie định hù cô bạn, nhưng nhanh chóng nghĩ lại. Có lẽ hù dọa Kate là một ý tưởng rất tệ. Cậu vốn ghét quấy rầy cô bạn mà. Kate vẫn chăm chú nhìn thẳng về phía trước, dường như đang mải mê tập trung vào đó. Reynie chẳng thấy có gì trên bức tường nhà kho cả, cậu ngờ rằng cô bạn đang tập trung vào một thứ gì đó trong tâm tưởng thì đúng hơn. Có lẽ cô bé đang mải nghiền ngẫm về một loại dụng cụ mới hữu ích nào đó có thể mang trong cái giỏ của mình.

Bất chợt Kate gập người lại và bắt đầu ho. Cô bé thở khò khè rồi phát ra những tiếng nôn ọe thật kinh khủng. Chẳng lẽ Kate đang bị nghẹn? Reynie vừa định lao tới giúp bạn thì Kate kêu ré lên tuyệt vọng và dậm chân thình thịch. “Không phải nữa chứ!” Cô bé rên rỉ đứng thẳng người lên, rồi quay lại và trông thấy Reynie đang đứng ngó trân trân từ lối vào kho thóc.

“Mình không biết có chuyện gì,” Reynie nói, “nhưng mình có cảm giác mọi thứ ở đây đều rất lạ.”

“Reynie!”

Kate nhảy bổ vào cậu bạn, đôi mắt xanh biếc sáng rực lên vui sướng. Reynie dang rộng hai cánh tay và lập tức cảm thấy hối hận. Kate vì quá mừng rỡ nên lao thẳng tới giống một cú phá bóng hơn là một cái ôm, và thế là cả hai đứa ngã bổ chửng xuống đất. Reynie cảm thấy như oxi bật hết ra khỏi lồng ngực.

“Cậu đã đến rồi à?” Kate nhỏm dậy trên hai đầu gối, hồ hởi nói liến thoắng. “Cô Perumal và mẹ cô ấy đâu rồi? Sao mãi giờ cậu mới đến hả? Đáng lẽ cậu phải ở đây từ hôm qua rồi chứ? Tớ đã phải đọc đi đọc lại lá thư đến hai lần để biết chắc đấy!”

Reynie đang choáng váng vì đột ngột bị hạ nốc ao nhưng vẫn gắng gượng nhoẻn miệng cười - chắc lúc này trông cậu giống một con cá mắc câu lắm đây - nhưng cậu chỉ mấp máy được môi thôi chứ chẳng thốt ra nổi tiếng nào.

“Sao thế, Reynie, cậu bị mất tiếng rồi à?” Kate vừa nói vừa cười như nắc nẻ. Cô bé kéo Reynie đứng dậy và bắt đầu phủi bụi cho cậu bằng những cú đập vào người rõ đau. “Tớ biết, tớ cũng háo hức lắm. Và không chỉ vui về điều ngạc nhiên lớn của ông Benedict đâu, tớ mừng rơn vì được gặp lại bọn con trai các cậu! Cậu không biết tối qua không thấy cậu đến tớ thất vọng thế nào đâu.”

Lấy lại được hơi, Reynie bước ra tránh những cái vỗ đập của Kate rồi nói, “Cậu không phải người duy nhất cảm thấy thế đâu. Xe của bọn tớ bị hỏng, chúng tớ phải đẩy xe vào thị trấn và qua đêm trong quán trọ đấy.”

“Quán trọ trong thị trấn á?” Kate gào lên. “Thế mà nhà tớ không biết! Nhà tớ có thể đến đón cậu bằng xe tải.”

“Xin lỗi, tớ định gọi điện, nhưng vì cậu không có điện thoại nên...”

Kate rên rỉ. “Ôi, Milligan và những nguyên tắc của ông! Tớ yêu bố lắm nhưng trong một số chuyện ông cứ khăng khăng...”

“Dù sao thì,” Reynie vừa cười vừa nói, “tớ không thể ở yên chờ cái xe sửa xong nên đã xin phép Amma đi trước.” Amma là cách Reynie gọi cô Perumal, mẹ nuôi của cậu. “Sau đó tớ hỏi đường người thợ sửa xe và giờ tớ đang ở đây rồi. Amma và Pati sẽ đi thẳng tới đây ngay khi cái xe chạy được.”

Kate tóm lấy cánh tay Reynie, gương mặt nhăn lại vì lo lắng (lạ thật, Kate vốn đâu phải là kiểu người hay lo âu nhỉ). “Xe có đủ chỗ cho cả ba người bọn tớ đi cùng không? Ý tớ là đi cùng với cô Perumal, mẹ cô ấy và cả đống hành lý nữa? Bố mẹ của Sticky cũng sẽ đến, nhưng cậu biết đấy, xe của họ nhỏ xíu. Không thể hình dung nổi việc một đứa trong bọn mình lại bị tách ra sáu tiếng đồng hồ trên hai cái xe khác nhau - nhất là khi chúng mình đã xa nhau cả sáu tháng trời rồi!”

“Chúng tớ thuê hẳn một chiếc xe bán tải nên còn vô khối chỗ để ngồi. Giờ nghe này,” Reynie nói, giơ tay lên chặn Kate lại khi cô bé bắt đầu định nói nữa, “trước khi chúng ta lạc đề quá xa, bây giờ cậu sẽ nói cho tớ biết cậu đang làm gì chứ? Lần cuối cùng tớ nghe thấy một tiếng kêu như thế là khi con mèo ở Trại tế bần nôn ra một cuộn len.”

“Ồ, cái đó à?” Kate nhún vai. “Tớ đang tập luyện để có thể nôn ọe ra mọi thứ, nhưng khó hơn là tớ nghĩ.” Thấy vẻ mặt kinh hoàng của Reynie, cô bé vội giải thích. “Đó là một nghệ thuật để tẩu thoát xưa cũ ấy mà. Houdini và tất cả mấy gã đó đều có thể làm thế cả. Chúng nó nuốt một cái chìa khóa hay thứ gì đó, sau đấy dùng các múi cơ trong cuống họng để đẩy nó ra. Cậu có thể luyện tập với một sợi dây buộc vào thứ cậu sắp nuốt vào, như vậy cậu có thể kéo nó trở ra. Tớ lúc đầu cũng làm như thế, nhưng sau tớ nghĩ mình có thể xoay sở mà không cần dây. Nhưng tớ chả may mắn tẹo nào.”

“Vậy là tớ đã đúng,” Reynie nói. “Trò này thật buồn cười. Nhưng nó không nguy hiểm đấy chứ?”

Kate bặm môi nghĩ ngợi. Rõ ràng cô bé chưa bao giờ cân nhắc đến chuyện này. Kate không phải là kiểu người để tâm lo lắng đến mấy chuyện nguy với chả hiểm. “Tớ nghĩ đây không phải là trò an toàn nhất trên đời đâu,” Kate thừa nhận, rồi ánh mắt trở nên nghiêm nghị, cô bé nói, “cậu đừng nên thử nhé.”

Reynie cười ngặt nghẽo (vì chẳng điều gì có thể xui khiến cậu thử cái trò kỳ cục như thế), rồi đáp lại bằng một cái nhìn nghiêm túc không kém, cậu nói. “Được rồi, Kate, tớ hứa không bao giờ nuốt - à mà cậu nuốt cái quái gì thế hả?”

Kate đảo mắt phẩy tay. “Tớ không muốn nói.”

“Này này, giờ có chuyện gì xảy ra đâu chứ?” Reynie phản đối, trông càng kinh hãi. “Ý tớ là dù sao cậu đã không thể...?”

“Tớ không muốn nói về nó,” Kate kiên quyết.

Dù sao chăng nữa họ cũng có đủ thứ hằm bà lằng khác để nói rồi.

Kate không chỉ muốn đưa Reynie đi xem một vòng trang trại, cô bé còn quyết liệt muốn khai thác xem cậu nghĩ sao về kế hoạch của ngài Benedict dành cho cả bọn. Tròn một năm đã qua kể từ hồi ngài Benedict tuyển chọn bốn đứa cho một nhiệm vụ khấn cấp - nhiệm vụ mà chỉ những đứa trẻ xuất sắc nhất mới có thể đảm đương được - bây giờ chính là dịp kỷ niệm một năm lần đầu tiên cả bọn gặp nhau, ông đã sắp xếp một cuộc sum họp tổ chức ở nhà ông tại Thành phố Đá. Trong một lá thư ông giải thích, “Đến đây các cháu sẽ có một ngạc nhiên mà ta hy vọng tất cả các cháu sẽ hài lòng - sự ngạc nhiên này tuy không thể hiện hết được lòng biết ơn và tình cảm yêu mến vô bờ bến mãi mãi của ta dành cho các cháu, nhưng cũng cho thấy được sự coi trọng ... “ Và ông ấy cứ tiếp tục nói liền tù tì như thế một lúc, nói rõ tỉ mỉ về việc ông đánh giá cao những phẩm chất độc nhất vô nhị của bọn trẻ như thế nào và ông háo hức được gặp lại tất cả. Kate vui sướng chỉ đọc lướt qua lá thư rồi cất đi. Reynie thì đọc đi đọc lại bức thư vài lần đến mức học thuộc lòng nó luôn.

“Cậu ghi nhớ tất cả à?” Kate vừa nói vừa dẫn Reynie leo lên một cái thang để chỉ cho cậu vựa chứa cỏ khô. “Cậu bắt đầu có vẻ giống Sticky rồi đấy nhé.”

“Sticky thì chỉ cần đọc nó mỗi một lần thôi,” Reynie đáp, đó hoàn toàn là sự thật, nhưng Reynie chủ yếu nhắc đến Sticky hòng đánh lạc hướng sự chú ý. Thực ra cậu ghi nhớ từng lá thư nhận được suốt sáu tháng qua - không chỉ là thư từ ngài Benedict, mà còn cả những mẩu tin nhắn vui vẻ Kate gửi, những báo cáo có phần hơi tẻ ngắt nhưng lúc nào cũng chi tiết của Sticky, và thậm chí cả bài thơ loằng tà là ngoằng Constance viết về bất cứ thứ gì từ nụ hoa chúm chím, đến con thỏ cáu bẩn, hay mẩu giấy vụn nào đó đánh trúng cảm hứng sáng tạo của cô nàng trên đường đi kiếm một con tem. Reynie cảm thấy hơi tủi thân khi cậu cứ luôn bấu víu vào từng từ từng chữ trong những lá thư của bọn bạn, trong khi chẳng ai trong số tụi nó đả động đến việc nhớ nhung cậu.

“Nói đến Sticky,” Kate bắt đầu khi kéo Reynie đi qua cánh cửa lật vào vựa cỏ, “gần đây cậu có nghe ngóng được gì nhiều từ cậu ấy không? Sticky nói hai đứa các cậu viết thư cho nhau thường xuyên hơn là mình và cậu ấy. Lại còn nói rằng cậu thực sự chịu khó trả lời các câu hỏi của cậu ấy, không giống như mấy đứa bạn khác. Tớ không nghĩ là cậu ấy hiểu hoàn cảnh của tớ. À mà đây là vựa cỏ đấy nhá.”

Reynie nhìn quanh. Cái vựa cỏ giống như mọi vựa cỏ khác mà cậu từng thấy - mặc dù thực ra cậu chỉ mới nhìn thấy chúng trên tranh ảnh và tivi - nhưng Kate có vẻ hết sức tự hào về nó, vậy nên cậu gật lấy gật để vẻ tán thưởng trước khi nói.

“À, chuyện là,” Kate vừa nói vừa mở toang cánh cửa dẫn ra bên ngoài, nó trông ra bãi đất quây cho bầy gia súc, “tớ bận bịu khủng khiếp, vừa phải đi học lại vừa phải cố gắng thu vén trang trại và điều hành nó. Cậu biết đấy, bố Milligan thường xuyên vắng nhà làm nhiệm vụ, nên tớ phải phụ giúp mọi việc.”

Reynie biết chuyện này. Milligan là cha Kate, đồng thời cũng là một đặc vụ mật. Tất cả những chuyện đó không ai biết mãi cho tới gần đây, ngay cả Kate cũng không được biết. Khi Milligan bị bắt trong khi thực thi một nhiệm vụ thì cô bé mới chỉ chập chững biết đi, ông bị mất trí nhớ và không quay trở về được. Vì mẹ mất và cha thì bỏ đi (như mọi người đã tin như vậy), nên Kate bị gửi vào trại trẻ mồ côi, rồi cuối cùng lưu lạc đến một gánh xiếc. Về phần Milligan, ông đã trốn thoát khỏi những kẻ bắt giữ mình và đến làm việc cho ông Benedict. Mãi cho tới khi ông Benedict tập hợp họ lại với nhau, chính xác là vào tháng này một năm trước, thì Kate và Milligan mới khám phá ra sự thật.

“Trang trại tan hoang suốt bao nhiêu năm trời,” Kate nói. “Thế đã đủ khiến tớ bận tối tăm mặt mũi rồi. Tất nhiên, tớ không ngại việc đâu. Việc tớ thấy khó nhất là ngồi yên một chỗ đủ lâu để viết một lá thư mùi mẫn. Đáng lẽ Sticky nên biết điều đó chứ, phải không?”

“Đáng lẽ cậu ấy nên thế,” Reynie công nhận. Cậu bước đến cửa, Kate đang lấy thứ gì đó từ chỗ cái giỏ (Reynie để ý thấy bây giờ nó đã lật ngửa lên) và đưa nó lên môi. Đó là một loại còi. Cô bé lại với vào cái giỏ lần nữa.

“Nhưng vấn đề thật sự với chuyện viết thư,” Kate tiếp tục nói qua đôi môi đang ngậm chặt cái còi trong khi xỏ tay vào một chiếc găng tay da dày dặn, “là chính phủ kiểm soát tất cả thư của tớ. Con gái của một đặc vụ hàng đầu, cậu biết rồi đấy. Họ phải chắc chắn là tớ không tiết lộ bất cứ bí mật nào. Mọi chuyện liên quan đến nhiệm vụ của chúng mình bị bưng bít kín mít đã đủ tệ rồi - vì lẽ ra bọn mình có quyền nổi tiếng sau tất cả những gì đã làm - nhưng tớ thậm chí còn không thể gửi những lá thư riêng tư cho bạn bè thân? Thật là quá đáng!”

Như để bộc lộ hết nỗi bức xúc, Kate phồng má thổi hết sức vào cái còi, làm nó phát ra một tiếng rít inh ỏi.

“Đấy có phải là cái tớ nghĩ không nhỉ?” Reynie hỏi.

“Có thể,” Kate đáp, “vì cậu thường xuyên đúng về mọi thứ mà. Cậu không nghĩ là thật thiếu công bằng khi Sticky cứ đổ lỗi cho tớ là viết thư ít quá à?”

Reynie quyết định nói thẳng nói thật. “Tớ phải thú nhận là tớ cũng cảm thấy thế đấy, mà không chỉ là thư của cậu thôi đâu, cả của mọi người nữa. Chẳng có ai thực sự đả động đến chuyện… chuyện… ừm, tớ bắt đầu nghĩ rằng mình là người duy nhất, cậu biết rồi đấy, người…”

Kate nhìn cậu bạn bằng ánh mắt nghi ngờ. “Reynard Muldoon! Trong tất cả mọi người, tớ không bao giờ nghĩ lại là cậu đấy…” Cô bé lắc đầu. “Không phải mọi người đều có khả năng trời ban trong việc bày tỏ ý nghĩ của mình, Reynie ạ. Cậu không biết tớ nhớ tất cả các cậu nhiều đến mức nào đâu. Tớ thậm chí còn nhớ Constance đến phát khóc cơ đấy!”

Reynie cười toe toét. Đúng như cậu hy vọng. Mới ở đây có năm phút mà cậu đã cảm thấy khỏe hơn cả trăm lần rồi.

“A, cô nàng đây rồi!” Kate reo lên rồi đưa một cánh tay lên cao. Giây lát sau không khí trước mặt họ vỡ òa ra thành một cơn náo động những móng vuốt và cánh chim. Reynie giật lùi ra sau. Con chim ưng đã sà xuống đậu trên cái găng tay da dày cộp dài quá cổ tay của Kate. Bây giờ nó đang nghiêng ngó cái đầu hết bên này tới bên kia, săm soi hai đứa. “Reynie, gặp Madge đi.”

“Madge á?”

“Viết tắt của Bệ Hạ. Thực ra tên đầy đủ của cô nàng là Nữ Hoàng Bệ Hạ. Vì nó là nữ hoàng của các loài chim mà.”

“Mình thấy rồi,” Reynie đáp. “Đẹp thật. Nữ hoàng các loài chim.”

“Đừng có nhìn tớ kiểu ý! Đó là một cái tên hết sảy dù cậu có thích nó hay không. Chẳng phải là một cái tên tuyệt vời sao, Madge?” Kate đưa cho con chim ưng một dải thịt lấy từ một cái túi được buộc kín trong chiếc giỏ. Cô bé hối thúc Reynie vuốt ve bộ lông của con chim (Reynie lo lắng làm theo) rồi lại thả nó đi. “Bố Milligan tặng nó cho tớ nhân dịp sinh nhật - chỉ mất một tá những lời gợi ý bóng gió và một tháng nài nỉ thôi - tớ đang huấn luyện nó. Nó thông minh cực kỳ.” Kate hạ giọng thì thầm cứ như sợ Madge đang cách đó cả trăm mét cũng có thể nghe lỏm được. “Nói riêng cậu với tớ thôi nhé, nó là một loài chim săn mồi hiếm có đấy. Tất nhiên là tớ không bao giờ nói cho cô nàng biết đâu.”

Reynie ngây người ngắm con chim ưng liệng cánh phía trên trang trại. Đúng là cái kiểu của Kate Wetherall, chỉ cho bạn xem một thứ cực kỳ ấn tượng thế rồi hành động như thể bạn không nên ngạc nhiên vì thứ đó. “Tớ nghĩ cậu cần có giấy phép mới được nuôi chim ưng,” Reynie bảo, “và phải trải qua nhiều năm huấn luyện đặc biệt nữa chứ.”

“Ôi trời, cậu thật là,” Kate tuột chiếc găng tay da bỏ trở lại cái giỏ. “Tớ đã có tất cả những thứ ấy từ hồi ở gánh xiếc rồi. Một người huấn luyện thú chuyên huấn luyện chim ưng để đi săn, ông ấy đã nhận tớ làm đồ đệ. Tớ học được tất cả từ ông ấy… nhưng bọn mình có thể nói chuyện đó sau được không?” cô bé gạt chủ đề đó đi bằng một cái phẩy tay nôn nóng. “Cậu kể cho tớ nghe chuyện về Sticky đi. Gần đây cậu có được tin tức gì từ cậu ấy không?”

Reynie sột soạt lôi từ túi áo ra một mớ giấy gập nhàu nát. “Thực ra cậu ấy gửi cái này cho mình vài ngày trước. Đó là một bản miêu tả về nhiệm vụ của tụi mình - cho thế hệ sau này, cậu ấy bảo thế, phòng khi nhiệm vụ này có lúc bị bại lộ. Cậu ấy nói tớ có thể cho cậu xem. Cậu ấy muốn tụi mình cho ý kiến.”

“Cậu muốn nói là cậu ấy viết lại mọi chuyện đã xảy ra á? Giống như một câu chuyện ấy hả?”

“À... kiểu kiểu như thế.” Reynie mở tập giấy và đưa cho Kate, cô bé lập tức ngồi bệt xuống đống cỏ khô để đọc. Có tất cả năm trang giấy, mặt trước mặt sau dày rịt toàn chữ là chữ được in ra, chỉ riêng cái tiêu đề đã gần dài bằng một lá thư của nàng Kate rồi. Nội dung như sau:

Chiến thắng của Hội Benedict Thần Bí trước Cỗ Máy Khủng Khiếp Biết Điều Khiển Suy Nghĩ có tên gọi là Máy Thì Thầm (theo kẻ phát minh ra nó, Ledroptha Curtain, anh em sinh đôi mất tích lâu ngày của ngài Nicholas Benedict, người đã đặt tên cho Hội): Báo Cáo Bí Mật.

“Bốc mùi khiếp!” Kate thốt lên.

“Cái tựa đề hả?”

Kate gật đầu và tiếp tục đọc:

Thực tế các bạn độc giả không biết đến kế hoạch thất bại trong việc sử dụng Máy Thì Thầm làm thay đổi ý nghĩ con người hòng trở thành kẻ thống trị thế giới của ngài Curtain. Bản báo cáo này sẽ mang đến cho các bạn những thông tin liên quan tới sự kiện này.

Bản báo cáo mở đầu với việc thành lập Hội Benedict Thần Bí. Thông qua một loạt các bài kiểm tra đã quyết định rằng George “Sticky” Washington (tác giả bản báo cáo này), Reynard Muldoon (hiện giờ tên đầy đủ là Reynard Muldoon Perumal, vì cậu đã được nhận làm con nuôi), Kate Wetherall, và Constance Contraire có đầy đủ các kỹ năng cần thiết để gia nhập vào Học Viện Siêu Tài Năng của ngài Curtain (ghép các chữ đầu có nghĩa là S.Ố.N.G) và hoạt động như các đặc vụ ngầm cho ngài Benedict. Tại học viện được nói tới trên, những đứa trẻ này đã khám phá ra nhiều điều đáng lo sợ. Sau đó họ đã vô hiệu hóa Máy Thì Thầm, mặc dù ngài Curtain và các trợ thủ thân tín của ông (được gọi là những Điều hành viên) không may đã trốn thoát để không bị sa lưới pháp luật. Nhưng tôi nhận thấy mình đã đi đến phần kết. Cho phép tôi quay trở lại từ đầu và hoàn chỉnh phần giới thiệu đầy đủ trình tự các sự kiện...

Bản báo cáo cứ tiếp tục như thế, quanh đi quẩn lại, vòng vo tam quốc trong khi Sticky nỗ lực hoàn thành một bản tóm tắt chính xác về những cuộc phiêu lưu của cả bọn. Ví dụ có một đoạn dành toàn bộ để nói về nguồn gốc từ “khiếp hãi” đoạn sau lại nói về cảm giác tò mò về tình trạng bị cô lập trên những hòn đảo (trái ngược với các bán đảo), và rồi vẫn đoạn đó là nhắc đến hình phạt độc ác trong các trường học. Tới khi Kate đọc được tới trang thứ hai, hai vai cô bé đã buông thõng cả xuống. Thở dài thườn thượt, cô nàng lật sang trang cuối cùng và đọc câu kết: “Và đây là phần kết của bản báo cáo.” Cô bé ngẩng lên nhìn Reynie. “Cái... ừm, toàn bộ cứ kiểu kiểu như thế này à?”

“Mình e là vậy đấy.”

“Nhưng làm sao cậu ấy có thể nêu bật được sự kiện thú vị nhất, nguy hiểm nhất, quan trọng nhất trong đời cậu ấy - trong cuộc đời bất kỳ ai - khi mà quá… quá…”

“Quá rối rắm hả?” Reynie gợi ý.

Kate ngả người lên đống cỏ khô mà cười rúc rích. “Ôi, tớ không thể đợi đến lúc gặp cậu ấy được!”

“Đừng làm khó cậu ấy quá. Có lẽ cậu ấy đã chui ra khỏi cái vỏ bọc của mình, nhưng vẫn còn rất nhạy cảm.”

“Tớ chắc chắn sẽ ôm hôn trước khi trêu ghẹo anh chàng này,” Kate đáp.

Reynie rụt đầu lè lưỡi. Cái ôm của Kate có khi còn làm Sticky tổn thương hơn cả trò trêu chọc của cô nàng ấy chứ.

“Thôi, ngả ngốn đủ rồi,” Kate kêu lên, dù vừa mới nằm lăn ra được có ba giây. Cô bé đứng bật dậy. “Cậu không nhận xét gì về cái giỏ của tớ à?”

“Tớ đang định nói đây,” Reynie đáp. “Tớ thấy là cậu đã có thêm vài cải tiến.”

Kate hối hả trưng nó ra cho cậu bạn xem. Cái nắp đậy thông minh mới dễ dàng mở ra nhưng đóng lại thật chắc chắn, nó giữ cho các món đồ bên trong không còn bị rơi ra ngoài như hồi trước. Hơn nữa, bên trong Kate cho gắn thêm mấy cái túi nhỏ được đóng lại bằng dây, dây đai và khóa kéo nên mọi thứ có thể được cố định gọn gàng đúng chỗ. Cuộn dây thừng của Kate vẫn luôn nằm ở dưới đáy giỏ, gài gọn ghẽ dưới những cái túi nhỏ.

“Thật ấn tượng,” Reynie thốt lên, kiểm tra thử cái chốt ẩn làm cho nắp giỏ mở bật được ra.

Kate cười rạng rỡ. “Bố Milligan thiết kế cái nắp đấy. Bố tớ đã gợi ý rằng một cái dây đai đeo thắt lưng sẽ hữu ích và đỡ cồng kềnh hơn một cái giỏ, nhưng tớ nhắc ông nhớ rằng không thể đứng lên một cái dây đai để với một món đồ ở trên cao được…”

“Hoặc đổ đầy nước vào trong và thả nó lên đầu bọn truy đuổi,” Reynie nói thêm, nhớ đến lần Kate đã làm thế để thoát khỏi Jackson và Jillson, những Điều hành viên hung dữ nhất của ngài Curtain, bọn chúng đã đe dọa uy hiếp bọn trẻ ở Học viện.

“Chính xác! Và bố Milligan đã hiểu ý tớ, nên ông đề nghị giúp tớ cải tiến cái giỏ này thay vì bỏ nó đi để dùng thứ khác. Xem này,” cô bé nói rồi bước lên đứng trên nắp giỏ. “Không còn chỗ trống và nó không bị lật ngửa nữa. Nó giúp tiết kiệm thời gian lắm, cậu biết đấy.”

Thật khó mà kịp hình dung ra Kate đang làm gì, nhưng Reynie đã nhận biết được sự cải tiến đó. “Thế dạo này cậu đựng gì trong đó thế? Ý mình là ngoài quà vặt và cái còi của chim ưng ra.”

Túi nọ sát túi kia, Kate chỉ cho Reynie xem các thứ đựng bên trong chiếc giỏ. Cô bé nói thật may là bố Milligan đã phục chế được vài thứ mà cô bé buộc phải bỏ lại ở Học viện - chiếc kính thiên văn nhỏ (mà cô bé đã ngụy trang cho nó y như là một cái kính vạn hoa), con dao quân dụng Thụy Sĩ, cái nam châm hình móng ngựa và chiếc đèn flash - cô cũng thay thế vài món đồ đã mất hay bị hỏng, như khẩu súng cao su và những hòn bi, cuộn cước dây câu cá sạch sẽ, tuýp keo siêu dính và cả cây bút nhớ dòng. Thêm nữa, cô mới bổ sung một cây cọ vẽ có kích cỡ bằng một cái bút chì và một chai nước chanh.

“Tớ đã phải đợi để nói riêng với cậu đấy,” Kate tỏ vẻ tinh quái. “Cậu biết thủ thuật với nước chanh ép chứ? Từ bây giờ tớ sẽ dùng bút lông viết những lời nhắn bí mật lên các lá thư của tớ, và thế là những kẻ rình mò của chính phủ sẽ không thể nào thấy được. Cậu chỉ cần giơ tờ giấy lên trước một ngọn nến là chữ sẽ xuất hiện.”

Reynie cười thầm. Cậu chẳng lạ gì với trò nước chanh này nhưng chưa bao giờ có cơ hội dùng nó. “Còn cái gì trong túi cuối cùng thế?” cậu hỏi, chỉ vào một cái túi còn chưa được mở.

“Ồ, chỉ là những cái này,” Kate nói, rồi có phần ủ rũ, lôi ra một chùm ít nhất hai tá chìa khóa, có kích thước khác nhau và phong phú đủ loại. “Chìa khóa nhà. Chìa khóa xe tải. Chìa khóa kho thóc, chìa khóa chuồng gà, chìa khóa của tất cả các cổng và tủ chạn, nhà kho chứa đồ. Bố Milligan tin tưởng làm thế sẽ giữ mọi thứ được an toàn.” Cô bé thở dài não nề rồi nhét chùm chìa khóa trở lại cái túi nhỏ.

“Có chuyện gì à?” Reynie hỏi.

“Không có, thật đấy,” Kate đáp. “Chẳng có gì quan trọng cả, ít nhất là thế - và tớ nghĩ đấy lại chính là rắc rối. Tớ yêu trang trại này, cậu biết đấy, và tớ vui được ở đây. Chỉ là có đôi lúc có cảm giác nó hơi nhàm chán. Sau tất cả những điều thú vị mà chúng mình đã trải qua, những chuyện quan trọng mà bọn mình đã hoàn thành - à, mọi thứ từ đó trở đi dường như có hơi tầm thường. Chúng mình là những đặc vụ bí mật, Reynie ạ!” Khi nói những lời này, đôi mắt Kate ánh lên một tia sáng rất quen thuộc. Thế rồi cô bé tự cười giễu mình. “Thế nên khó lòng mà thấy hứng thú khi chỉ có chùm chìa khóa để mở cửa vào hầm rượu không thôi. Ý mình muốn nói là thế đấy.”

“Ồ, cậu không đơn độc đâu,” Reynie nói. “Từ khi cô Perumal nhận nuôi mình, mọi thứ đều rất tuyệt vời, nhưng mình vẫn cảm thấy lúc nào cũng không thể nghỉ ngơi được - giống như là mình đáng lẽ phải làm một chuyện gì đó khẩn cấp mà không thể nói đó là gì.”

“Thật à?” Kate hỏi, trong một thoáng hai đứa im lặng nhìn nhau. Chỉ cần một cái nhìn cũng đủ truyền tải mọi điều cả bọn đã cùng nhau chia sẻ: hiểm nguy, khó khăn, dĩ nhiên cả chiến thắng của nhiệm vụ bí mật nữa, nhưng đồng thời có cả sự thấu hiểu - cảm giác cô độc khi phải ở một mình cũng như cảm giác ly kỳ khi cả bọn ở bên nhau - chúng biết về những thứ mà trên thế giới này không ai khác biết được, những chuyện chúng có thể sẽ không bao giờ nói ra trừ phi nói với nhau.

“Tớ cho rằng đấy chỉ là cảm giác vỡ mộng bình thường thôi,” cuối cùng Kate lên tiếng. Cô bé đi tới góc vựa cỏ. “Dù sao cũng không tệ đến thế đâu. Tớ luôn làm những gì có thể để khiến mọi việc thú vị hơn.”

Nói đến đó, cô bé nhảy lên kéo một sợi dây thừng nhỏ treo thòng lòng xuống từ thanh xà phía trên mái nhà. Một cánh cửa sập mở ra dưới chân Kate, cô bé tinh nghịch vẫy tay rơi xuống cái lỗ đó và biến mất. Reynie nghe tiếng cô đáp xuống nền đất ở dưới đến phịch một cái. “Đi nào!” cô gọi với lên. “Chúng mình đi hái ít táo đi.”

Reynie lắc đầu rồi đi đến chỗ cái thang. Rốt cuộc, Kate vẫn cứ khoái những thứ thú vị và vương vấn mãi những cuộc phiêu lưu đã qua cũng chẳng được gì. Nếu có bất cứ điều gì khiến Reynie lấy làm vui sướng - cậu đã thực lòng vui sướng - thì đó là cùng với những người bạn không còn phải trải qua nguy hiểm nữa. Dù sao thì, ai cần mạo hiểm cơ chứ? Chắc chắn không phải Reynie rồi!

Nhưng dù Reynie có cần nó hay không cũng chẳng thể ngờ được nguy hiểm gần như chắc chắn đang chờ đợi cậu và bạn bè.

Và sẽ chẳng phải chờ đợi lâu.