Graham Greene is the writer of the novel “The Quiet American” which was made a famous motion-piturẹby the director Philip Noycẹ But this story, he wrote for the youth, it's a strange story, perhaps it only happened in the realistic agẹ Please read the following story to know it clearlỵ

Peter Morton thức dậy đầu tiên bởi ánh sáng yếu ớt đang tràn vào phòng. Qua khung cửa sổ, cậu bé có thể thấy những cành cây oằn mình trong màn mưa bạc trắng, mưa dữ dội quất tới tấp vào tấm kính đóng chặt. hôm nay là ngày 15 tháng 1.

Cậu nhìn sang giường bên kia, Francis Morton vẫn còn ngủ, Peter ngắm đứa em song sinh của mình, thật buồn cười, cứ như chính cậu đang nằm bên đó vậy: cùng mái tóc ấy, đôi mắt ấy, cái miệng ấy và dáng vóc ấy… đột nhiên, tâm trí cậu bé như sống lại, đúng rồi, ngày hôm nay, làm sao mình có thể quên được nhỉ, sự kiện được mong chờ suốt tuần: bữa tiệc sinh nhật ở nhà bà Henne Falcon. Tuyệt thật!

Francis chợt xoay người lại, hai tay ôm mặt và miệng, mồ hôi toát ướt đẫm vầng trán, tim Peter đập mạnh bởi một cảm giác khó chịu bỗng từ đâu ùa vào lồng ngực – Một con chim khổng lồ, giấc mơ, cơn ác mộng của Francis.

- Dậy đi!

Peter ngồi nhổm dậy la cậu em, cậu em bên giường kia đã trở mình thật mạnh nhưng vẫn nhắm mắt – Con chim ấy đang dang rộng đôi cánh, trùm lên cả căn phòng một màu đen đáng sợ…

- Dậy mau! Dậy đi nào!

Khả năng thần giao cách cảm kỳ lạ của cạp sinh đôi giúp Peter thấy và cảm nhận được hầu hết những gì xảy ra trong tâm trí Francis, ngay bây giờ là nỗi sợ mơ hồ nhưng mạnh mẽ, khiếp đảm.

- Anh vừa gọi em hả? – Francis chớp mắt.

- Ừ, em vừa mơ thấy cái gì ghê lắm phải không?

Mặc dù suy nghĩ của chúng gần như hoàn toàn giống nhau, nhưng vài phút ra đời trước đã cho Peter một sức mạnh, một cái gì đó gần như bản năng để che chở cho đứa em yếu ớt sợ hãi của mình – nó sợ hầu hết mọi thứ trên đời.

- Em mơ thấy mình bị chết.

- Chết à, như thế nào? – Peter hỏi lại với chút tò mò.

- Em cũng không nhớ rõ nữa – Francis nhìn ra cửa sổ, ánh sáng ban ngày càng lúc càng rực rỡ đã xua tan phần nào cơn ác mộng.

- Có một con chim hét thật to thì phải…

- Vậy à?

Francis chấp nhận lời giải của ông anh không chút thắc mắc, và trong vài giây, chúng nhìn nhau không chớp mắt: cũng đôi mắt xanh ve chai, cái mũi hếch và cái cằm non nớt thường thấy ở những cặp sinh non. Mười lăm tháng một, Peter chợt nghĩ, trí tưởng tượng của cậu nhảy nhót với những cái bánh vòng đường, bánh bông lan trang trí bằng kem bơ, rồi trò chuyền trứng bằng muỗng, trò cạp táo trong chậu nước, trốn tìm nữa.

“Em không muốn đi!” – Francis nói “Chắc là sẽ có Joyce, và cả Mabel Warren ở đó nữa”. Sự căm ghét trong giọng nói cậu bé có vẻ như chia đều cho cả hai đứa. chúng lớn hơn câu: Joyce đã mười một và Mabel warren thì đến mười bạ Bọn bày ưa ngúng guẩy hai cái bím tóc đầy kiêu ngạo và lấy làm thích thú khi cậu vật lộn một cách vụng về với mấy quả táo trong chậu, cứ nhìn cái kiểu liếc mắt khinh khỉnh của chúng nó thì biết, như năm ngoái ấy…

- Có chuyện gì hả, nhóc?

- Ôi, không sao đâu. Nhưng em hơi mệt, chắc là lại bị cảm lạnh hay sổ mũi gì đó thôi.

- Nó có tệ quá không? – Peter bối rối.

- Không đâu, chỉ tệ nếu em phải đi dự tiệc tối nay thôi, sẽ ốm đến chết mất.

- Thế thì em cứ ở nhà, nếu muốn!

Giọng Peter đầy quả quyết, nhưng Francis biết anh trai mình cũng biết, nỗi sợ hãi chính vào buối tiệc sinh nhật là trò chơi trốn tìm quái qủy, mà lại trong bóng tối chứ. Cậu bé còn nhớ mình đã hét to thế nào khi Mabel Warren đột ngột đặt tay lên vai cậu từ phía đằng sau. Quả tình là cậu hoàn toàn chẳng hề biết nó đến từ lúc nào, cái bọn con gái ấy mà, chúng nó đi như mèo giấu móng, chẳng biết đâu nữa…

Khi bà vú bước vào phòng, hai tay bưng chậu nước ấm, Francis liếc sang Peter đầy ẩn ý.

- Vú à, Francis bệnh rồi – Peter nói.

Người phụ nữ đứng tuổi, nghiêm nghị đổ thêm ít nước sôi vào chậu, không ngoái đầu lại:

- Thì cho em nó mượn cái khăn choàng cổ ấy!

- Nhưng con nghĩ tốt hơn là để nó nghỉ trên giường hôm nay…

- Chúng ta sẽ dẫn Francis đi dạo buổi sáng, gió và ánh mặt trời sẽ làm tiêu tan cơn bệnh của nó. Nào, bây giờ thì cả hai dậy đi! – Bà vú đi ra và đóng cửa.

”Anh xin lỗi”, Peter quay sang cậu em, chợt cảm nhận được nỗi khiếp sợ hiện lên rõ ràng trên mặt Francis, cậu an ủi “Nhưng anh sẽ xin mẹ xem sao”. Rõ ràng, chống đối và phản kháng không phải là lợi thế của Francis, điều duy nhất cậu có thể làm là từ chối một cách yếu ớt, và nó thường ít khi tỏ ra hiệu quả.

Vả lại, cứ nằm mãi trên giường không phải là một cách hay, chỉ cần một cái cặp nhiệt độ, người ta sẽ phát hiện ra cậu giả vờ ốm để trốn buổi tiệc. Cái cảm giác trống rỗng từ dạ dày khiến cậu nghẹn thở, tim đập thình thịch trong lồng ngực nhỏ bé. Tại sao cậu không dễ dàng kết bạn như Peter. Tai sao cậu luôn phải giấu mình đi trước một đám đông và chẳng hy vọng gì để làm nên một điều nổi bật.

”Em dậy ngay đây!” – Francis đặt một chân xuống đất, “Nhưng thề trên quyển Kinh thánh, em sẽ không đi đâu tối nay cả”. Và bây giờ chắc chắn mọi việc đều ổn, Chúa sẽ để ý đến lời thề trang trong của cậu và điều kỳ diệu biết đâu lại xuất hiện: từ đây đến chiều tối còn vô sô1 thời gian, may mắn, có thễ cậu sẽ bọ thương, bị gãy chân hay ốm thật sự. Chúa che chở cho những con người yếu ớt!

Bữa sáng, mẹ cậu có đề cập đến vấn đề nay, một cách cực-kỳ-kiên-quyết:

- Mẹ nghe con nói hơi mệt phải không, chẳng sao đâu, cưng ạ. Mẹ sẽ cho con nghỉ ở nhà, nếu không có buổi tiệc ở nhà bà Henne Falcon tối nay.

Nghe một cách lơ đãng, làm như đó là một chuyện đáng buồn cười và không quan trọng lắm, cậu tin, Chúa sẽ đáp lại lời cầu nguyện của mình.

và niềm tin ấy sẽ còn kéo dài lâu nếu trong cuộc đi dạo buối sáng, cậu không gặp Joycẹ Lại đúng lúc Peter đang chạy vào rừng thông đuổi theo một con sóc, thành ra chỉ còn mỗi cậu bé và bà vú đối mặt với vị khách hàng không được mong chờ.

Con bé sải chân đến chỗ hai người, lúc lắc hai bím tóc vàng hoa, không thèm nhìn Francis một lần mà quay sang bà vú:

- Dì ơi, dì sẽ cho Francis đến dự buổi tiệc tối nay chứ? Cả cháu và Mabel cũng sẽ đến đấy.

Rồi nó chạy biến về góc phố nhà Mabel Warren, nhanh nhẹn như một con thỏ.

- Con bé dễ thương thật!

Francis vẫn im lặnh, tim đâp mạnh, nhận biết rõ ràng hơn bao giờ hết sắp đến giờ dự tiệc, Chúa đã chẳng làm gì cả, mặc cho thời gian trôi vùn vụt.

Chẳng mấy chốc, cậu đã đứng trên bậc thềm trước cửa nhà bà Falcon; rồi tham gia đủ các trò chơi cùng lũ trẻ theo thông lệ hàng năm vào dịp sinh nhật của một đứa nào đó. Nói chung mọi thứ đều ổn cho đến khi mọi người tập trung vào phòng khách, cùng nhau đánh chén bánh ngọt và uống trà; chủ nhân bữa tiệc đứng lên tuyên bố hào hứng:

- Sau khi uống trà xong, tụi mình sẽ chơi trò chơi trốn tìm trong bóng tối.

Ôi, đừng – Peter bật dậy – Trò này năm nào cũng chơi, nhàm lắm rồi.

Francis vẫn ngồi thừ trên ghế, hầu như chẳng nhận thức được mọi việc đang diễn ra quanh mình; mọi người đồng loạt quay sang nhìn Peter một cách lạ lùng, chế diễu:

- Bỏ là bỏ thế nào, cậu có điên không, đây là trò vui nhất trong nhà tối nay mà. Hay là muốn đi về ngủ sớm?

Peter không tranh cãi nữa, sự thật hiển nhiên là trò chơi sẽ được tiến hành đúng như dự định, chẳng gì có thể thay đổi được nữa. Mà cũng phải để Francis quen dần đi; người lớn nói rằng bóng tối chẳng gì đáng sợ cả.

Mọi người lần lượt rời bàn, cả hai anh em sinh đôi cũng nhập vào nhóm bạn có vẻ rất hăm hở đón chờ câu tuyên bố của bà chủ.

- Và bây giờ, chúng ta bắt đầu chơi trốn tìm, đỉnh điểm của cuộc vui tối nay.

Đèn tắt phụt, những ánh sáng còn sót lại từ ngọn đèn ngoài hành lang, ngoài vườn cũng dần biến mất, tiếng chân bọn trẻ chạy rầm rầm trên gác, tiếng la hét phấn khích cũng im lặng dần, gần như tất cả đã tìm được chỗ trốn. Bóng tối tràn ngập khắp nơi, phủ lên bầu không khí như đôi cánh to lớn, đen kịt của hàng ngàn con dơi lượn lờ trong căn phòng. Rồi cơn ác mộng về con chi hét cùng với cảm giác sợ đến hoảng loạn ùa vào óc Peter; từng sợi dây thần kinh trong đầu cậu tăng lên. Đây không phải nỗi sợ của cậu, nó là thông điệp được Francis gởi đến.

- Francis! Francis! Em đang ở đâu?

Peter đứng chôn chân trên tấm thảm dày, chờ đợi ý nghĩ trả lời của đứa, nhưng Francis đang co mình lại giữa hai đầu gối, mắt nhắm chặt, hai tay bịt lấy tai, cậu không thể sử dụng khả năng thầm giao cách cảm của mình, ngoài việc phát ra những lời kêu cứu một cách hoàn toàn vô ý thức.

- Nếu mình là nó, mình sẽ trốn ở đâu?

Peter lần mò trong bóng tối, trực giác sẽ đưa cậu đến nơi cần đến; bởi bây giờ cả hai đang có chung một sợi dây cảm giác mạnh mẽ hơn bao giờ hết. câu trả lời là “Ghế trường kỉ, đằng sau ghế trường kỉ”. Nhanh nhẹn vòng ra phía sau cậu em, Peter ôm chặt lấy Francis, tay còn lại bịt mồm nó lại, cậu sợ Francis sẽ thét lên khi có người ôm mình bất ngờ.

- Anh đây! Anh đây! Đừng sợ gì cả, mọi việc sẽ ổn thôi. Rồi bọn kia sẽ nhanh chóng tìm ra tụi mình và trò chơi kết thúc.

Tiếng rì rào nổi lên càng lúc càng rõ, một vài người đã bị tìm thấy, rồi một vài người nữa, cho đến lúc mọi người tụ tập đông đủ ở hành lang và điểm danh, Mabel Warren nhìn quanh:

- Peter đâu? Các cậu đã tìm dưới gần cầu thang chưa?

Cả Francis nữa?

Bỗng tất cả im bặt khi nghe tiếng hét của bà Henne Falcon. Nhưng bà không phải là người đầu tiên nhận ra điều ấy, Francis bé nhỏ đã sụp đổ xuống sàn nhà, ngay cạnh chân anh mình. Peter ngồi đó, tay vẫn nắm chặt cổ tay mảnh khảnh giờ rũ ra như một cành non bị bẻ gãy. Đầu óc non nớt của cậu bé không hề nhận thức được em mình đã chết, chết vì sự sợ hãi tột độ khi cậu ôm choàng lấy nó; chết ngay trong vòng tay người bảo vệ mình. Cậu chỉ cảm nhận một cách rõ rệt rằng: luồng ý nghĩ sợ hãi, lời kêu cứu đã không phát ra khẩn thiết như lúc nãy, nó hoàn toàn im bặt và vĩnh viễn không bao giờ cất lên nữa. Có phải em cậu đã tìm được nơi mà bóng tối và nỗi sợ chẳng còn có thể đe dọa nó thêm lần nào nữa.

Hết