Phần 1

I

ào giữa tháng tám, vừa mới bắt đầu có trăng non, thời tiết bỗng trở nên tồi tệ, như thường vẫn gặp ở vùng duyên hải bắc biển Đen. Khi thì một màn sương mù dày đặc suốt mấy ngày liền nặng nề bao trùm khắp mặt đất và mặt biển, và lúc đó chiếc còi lớn trên ngọn hải đăng ngày đêm rống lên như một gã trâu điên; khi thì ngày này sang ngày khác mưa phùn dai dẳng không dứt, biến các con đường đất sét lớn nhỏ thành bãi lầy đặc sệt, làm những cỗ xe ngựa chở khách và chở hàng thụt xuống mãi không lên được. Lại có khi một cơn bão tuyết hung dữ từ đồng cỏ hướng tây bắc tràn về, các ngọn cây ngả nghiêng, nằm rạp xuống rồi lại đứng thẳng lên như những cơn sóng biển trong dông tố; đêm đêm, mái nhà bằng sắt tây của các nhà nghỉ ngoại thành rung lên kêu loảng xoảng chắng khác gì có người đi ủng đế sắt chạy trên đó; những khung cửa sổ, của chính bị giật liên hồi; gió hú man dại trong các ống khói lò sưởi. Đã có mấy chiếc xuồng máy đánh cá bị lạc ngoài khơi, và hai chiếc vĩnh viễn không bao giờ về nữa; phải một tuần sau, sóng mới đánh dạt mấy xác người lên bờ ở những chỗ khác nhau.

Những người trong khu nhà nghỉ ngoại ô cạnh bờ biển - phần lớn là dân Hi Lạp và Do Thái, yêu đời và cả lo như tất cả những người sống ở phương Nam - vội vã trở về thành phố. Dọc theo con đường cái lớn lầy lội, những đoàn xe bốn bánh chở hàng kéo dài tưởng như vô tận; trên xe chất đầy các vật dụng trong nhà - nệm giường, đi văng, hòm xiểng, bàn ghế, chậu rửa mặt, ấm xamôva. Vừa buốn, vừa thương hại, vừa khó chịu khi nhìn đoàn xe lôi thôi lốc thốc đến tồi tàn, bẩn thiửu và thê lương này qua màn mưa đục; nhìn đám hầu phòng và đầu bếp gái ngồi đè lên những tấm vải bạt ướt phía trên xe, tay giữ khư khư mấy chiếc bàn là, hộp sắt tây hoặc làn giỏ; nhìn những con ngựa kiệt sức, mình đẫm mồ hôi, thỉnh thoảng dừng lại, đầu gối run rẩy, hơi nước bốc lên như khói, cặp sườn thở gấp phập phồng; nhìn những người đánh xe quấn kín mình trong các tấm vải bố và chửi nhau đến khản cả giọng. Nhưng còn đáng buồn hơn nữa khi nhìn những ngôi nhà nghỉ đột ngột trở nên hoang vắng với những bồn hoa bị dẫm nát, những cửa kính bị vỡ toang, những con chó không chủ và đủ các thứ rác rưởi của đám người đi nghỉ bỏ lại - tàn thuốc lá, giấy lộn, mảnh gốm, vỏ diêm và ve lọ đựng thuốc ngổn ngang khắp nơi.

Nhưng đến đầu tháng chín thời tiết bỗng thay đổi một cách bất ngờ. Trời hửng lên và kế tiếp nhau là những ngày êm ả, không mây, nắng ráo và ấm áp, những ngày thậm chí ít gặp cả vào tháng bảy hàng năm. Trên các cánh đồng đất đã se lại và nén chặt, trên các đám ruộng lởm chởm gốc rạ màu vàng ươm, những sợi tơ nhện mùa thu ánh lên lấp lánh như mica. Những hàng cây thôi xào xạc, lặng lẽ và nhẫn nhục thả từng chiếc lá vàng xuống cội.

Nữ công tước Vêra Nicolaiepna Seina, đô thống quý tộc phu nhân, không thể rời nhà nghỉ của mình, vì ngôi nhà ở thành phố của họ đến nay vẫn chưa sửa chữa xong. Và bây giờ nàg rất vui với những ngày mới trời tuyệt đẹp vừa sang, với sự yên tĩnh cô đơn, với bầu không khí trong mát và tiếng bầy én đang tụ đàn chờ đén lúc bay về phương Nam lích chích kêu trên đường dây điện thoại, và với ngọn gió mặn âu yếm thổi nhẹ từ biển vào.

II

Hơn nữa, hôm nay lại là ngày lễ thánh của nàng – ngày mười bảy tháng chín. Theo những ký ức dịu dàng và xa xôi của tuổi thơ, bao giờ nàng cúng yêu cái ngày này và bao giờ cũng mong đợi nó mang đén cho nàng một cái gì đó thật diệu kì thật hạnh phúc. Chồng nàng, sáng nay phải vào thành phố có việc gấp, đã để lại trên mặt bàn cho nàng một hộp nhỏ đựng đôi khuyên tuyệt đẹp với những viên ngọc hình trái lê; món quà này càng làm cho nàng thêm vui vẻ.

Bây giờ trong cả ngôi nhà chỉ còn lại một mình nàng. Người em trai chưa vợ của nàng, phó uỷ viên công tố Nicolaêvích từ trước đến nay vẫn sống với họ, cũng đã vào thành phố. Chống nàng hứa đến bữa chiều sẽ mời về một số - không nhiều lắm - những người quen thân nhất. Rất may là ngày lễ này lại trùng với thời gian đi nghỉ trong năm. Nếu ở thành phố, chắc nàng phải tổ chức một bữa tiệc lớn , hoặc thậm chí là một đêm vũ hội; còn ở đây, tại nhà nghỉ, nàng chỉ cần tiêu một khoản không lớn lắm. Công tước Sein, mặc dù có địa vị khá cao trong xã hội – mà cũng có thể chính là nhờ nó - vất vả lắm mới tạm trang trải được mọi khoản chi tiêu. Tài sản rất lớn mà dòng họ từ xưa để lại đã bị tổ tiên của công tước phá tán hết, cuộc sống gia đình nàng hiện nay lại đòi hỏi chi tiêu quá mức thu nhập có thể có: phải tổ chức những buổi tiếp khách, quà cáp, phải ăn mặc sang trọng, phải nuôi ngựa v.v… Nữ công tước Vêra, mà tình yêu say mê trước đây của nàng đối với chồng đã dần dần biến thành một tình bạn chân thành, thuỷ chung và vững chắc, cố hết sức giúp công tước khỏi phá sản hoàn toàn. Nàng đã kín đáo, để chồng không nhận thấy, tự hạn chế mình nhiều thứ, và trong chừng mực có thể, cố tiết kiệm mọi khoản chi tiêu của gia đình.

Bây giờ nàng đang đi lại trong vườn và cẩn thận dùng kéo cắt hoa cho bàn tiệc sắp tới vào buổi tối. Các bồn hoa đã trở nên thưa thớt và trông có vẻ hơi hỗn tạp. Những bông cẩm chướng sặc sỡ, nhiều cánh sắp nở hết thì; những cành thuỳ dương mai, một nửa là hoa, một nửa là quả nang mỏng mảnh, thoang thoảng mùi cải bắp; mấy khóm hồng lần thứ ba trong mùa hè này cho nụ và hoa, nhưng lần này đã thưa thớt, bé nhỏ hơn, dường như đang bắt đầu tàn lụi. Ngược lại, thược dược, lay ơn, cúc tây lại đua nhau nở rực rỡ, phô bày vẻ đẹp lạnh lùng kiêu hãnh của mình, toả ra trong bầu không khí bàng bạc một nùi hương cỏ mùa thu đượm buồn. Những loài hoa khác sau một mùa tình yêu kiều diễm và một kì sinh nở dồi dào đã lặng lẽ trải lên mặt đất vô số những hạt giống cho cuộc sống tương lại mùa sau.

Từ ngoài đường nhựa cạnh nhà vẳng lại tiếng còi xe hơi quen thuộc. Đó là Anna Nicôlaepna Phoriexe, em gái nữ công tước Vêra - từ sáng sớm qua điẹn thoại, Anna đã hữa sẽ đến giúp chị tiếp khách và chuẩn bị bữa tiệc chiều.Đôi tai tinh tường đã không đánh lừa Vêra. Nàng bước ra đón. Mấy phút sau, một chiếc xe hơi sang trọng đã dừng lại ở cổng nhà nghỉ, người tài xế nhanh nhẹn nhẩy xuống, mở toang cửa xe.

Hai chị em mừng rỡ ôm hôn nhau. Ngay từ hồi còn nhỏ, họ đã gắn bó với nhau bằng một tình bạn ân cần và đằm thắm. Nhìn vẻ ngoài, họ có những nét không giống nhau một cách kì lạ. Cô chị Vêra giống mẹ, một phụ nữ người Anh xinh đẹp với dáng cao mềm mại, khuôn mặt dịu dàng nhưng kiêu hãnh và lạnh lùng, đôi bàn tay tuyệt mĩ mặc dù hơi to và hai bờ vai nghiêng kiều diễm mà ta có thể thấy trong những bức hoạ phẩm thời xưa. Còn cô em Anna thì ngược lại, mang trong mình dòng dõi Tacta, có ông nội mới cải theo đạo Thiên Chúa vào đầu thế kỉ XIX, cụ tổ xưa là Tamaclan, hay Lăng Temia như bố nàng vẫn gọi con người khát máu vĩ đại đó bằng tiếng Tacta một cách tự hào. Anna thấp hơn chị nửa cái đầu, vai hơi rộng, hiếu động và nhẹ dạ, thích cười đùa. Khuôn mặt nàng hơi giống mặt người Mông Cổ với đôi lưỡng quyền khá cao, cặp mắt đã hẹp lại còn hay nheo nheo vì cận thị, với nét kiêu căng trên chiếc miệng nhỏ gợi cảm, đặc biệt là làn môi dưới đầy đặn hơi trề ra – khuôn mặt nàng có sức cuốn hút bởi một sự duyên dáng khó hiểu vô hình, sự duyên dáng đó có thể nằm trong nụ cười, cũng có thể ở trong sắc thái nữ tính ẩn sâu sau các đường nét lộ ra ngoài, hoặc cũng có thể ở điệu mặt nũng nịu, nghịch ngợm, lẳng lơ… Vẻ không đẹp hài hoà của nàng lại khơi dậy và quyến rũ sự chú ý của đàn ông thường xuyên và mãnh liệt hơn nhiều so với sắc đẹp quý phái của chị nàng.

Chồng Anna là một người rất giầu và rất ngốc nghếch, ông ta tuy không làm gì nhưng vẫn có tên trong danh bạ của một tổ chức từ thiện nào đó và mang tước hiệu Quan thị vệ. Nàng không yêu chồng, nhưng vẫn sinh với ông ta hai đưa con - một trai, một gái. Rồi sau đó Anna quyết định không có con thêm nữa, và nàng không có thật. Còn về phần Vêra, nàng rất muốn có con, và theo nàng nghĩ, càng nhiều càng tốt; nhưng không hiểu sao nàng lại không sinh đẻ, vì vậy Vêra yêu quý một cách cuồng nhiệt hai đứa con kháu khỉnh và xanh xao của em gái, những đứa trẻ bao giờ cũng lịch sự và ngoan ngoãn, với khuôn mặt mịn màng nhợt nhạt và mái tóc vàng óng xoắn tít như tóc búp bê.

Anna sống rất phóng khoáng vui vẻ và có những mâu thuẫn đáng yêu, đôi lúc khá kì quặc. Nàng thích thú tham gia vào những trò tán tỉnh trăng hoa mạo hiểm nhất ở tất cả các thủ đô và các khu nghỉ mát của Châu u nhưng không bao giờ phản bội lại chồng, người mà nàng vẫn cười nhạo một cách khinh bỉ kể cả trước mặt lẫn sau lưng. Là một người hoang phí, nàng rất say mê những trò cờ bạc may rủi, những đêm khiêu vũ sôi nổi, những ấn tượng mạnh, những cảnh gay cấn; ra nước ngoài nàng thường tìm đến những tiệm cà phê có tiếng tăm đáng ngờ; nhưng đồng thời nàng lại là người có tấm lòng tốt hào phóng, một sự sùng đạo chân thành và sâu sắc đến nỗi nàng đã bí mật theo đạo Thiên Chúa. Nàng nổi bật lên với eo lưng, bộ ngực và đôi vai đẹp hiếm có. Đến dự các buổi vũ hội, nàng trang phục để lộ ra qua mức giưói hạn mà sự tế nhị và kiểu mốt cho phép. Nhưng người ta nói rằng bên trong áo hở vai rất thấp bao giờ nàng cũng mặc áo nịt bằng vải gai.

Còn Vêra lại giản dị đến mức trang nghiêm, lịch sự một cách lạnh lùng và có phần hơi kênh kiệu với tất cả mọi người, độc lập và tự tin như một bà hoàng.

III

- Ôi, lạy Chúa, sao ở đây thích thế! Thích quá đi mất! – Anna thốt lên, bước những bước ngắn và nhanh cạnh chị trên con đường nhỏ. - Nếu như có thể, chị em ta đến ngồi một lúc trên chiếc ghế dài cạnh vực kia đi. Đã lâu lắm em không được thấy biển. Mà không khí sao tuyệt trần đến thế - hít vào một cái đã nghe trái tim sảng khoái rồi. Mùa hè năm ngoái ở Mixơkhô bên Crưm em đã phát hiện ra một điều rất lý thú. Chị có biết nước biển có mùi gì khi sóng vỗ vào bờ không? Chị hãy tưởng tượng xem: mùi cây mộc tê thảo!

Vêra mỉm cười dịu dàng:

- Em đúng là giàu tưởng tượng.

- Không, không đâu. Em còn nhớ một lần mọi người cười em khi em nói rằng trong ánh trăng có sắc hồng phơn phớt. Thế mà hôm vừa rồi hoạ sĩ Bôritxki, người đang vẽ chân dung em ấy mà, đã đồng ý rằng em nói đúng và các hoạ sĩ đã biết điều đó từ lâu.

- Thế nào, tay hoạ sĩ này là đối tượng say mê mới của em đấy à?

- Chị bao giờ cũng bịa! – Anna cười, bước nhanh dedến bên mép vực với bờ thành thẳng đứng như bức tường, biển ở phía dưới rất xa. Nàng nhìn xuống vực và bỗng kêu lên, hoảng hốt lùi lại. mặt tái nhọt.

- Ôi, cao quá! – Nàng nói bằng giọng run run, yếu ớt. - Mỗi khi đứng trên cai như thế này nhìn xuống, bao giờ em cũng nghe trong ngực có một cái gì đó thót lại, vừa ngọt ngào vừa khó chịu… và ngón chân cứ buôn buốt… Nhưng dù sao nó vẫn cứ lôi cuốn, hấp dẫn…

Anna còn định cúi người nhìn xuống vực một lần nữa, nhưng Vêra đã giữ nàng lại:

- Anna yêu quý, hãy vì Chúa!... Khi em làm như thế chị cũng cảm thấy chóng cả mặt lên đây này. Nào, em ngồi xuống đi.

- Thôi được, thôi được, em ngồi xuống rồi đây… Nhưng chị thử nhìn xem, kìa – đepk quá, sướng quá. Thật không thể nào chán mắt được. Ôi giá như chị biết em cám ơn Chúa trời chừng nào vì tất cả những điều kì diệu mà chúng ta dược thấy!

Hai chị em ngồi trầm ngâm một lúc. Dưới chân họ, biển trải rộng sâu thẳm. Từ ghế ngồi không trông thấy bờ, và vì vậy cái cảm giác vô tận và hùng vĩ của biển càng tăng thêm. Mặt biển yên lặng dịu dàng một mầu xanh tươi mát, chỉ đây đó ánh lên dăm vệt sáng mượt mà ở những nơi có dòng chảy, và dần dần chuyển sang màu xanh thẳm nơi chân trời.

Những chiếc thuyền đánh cá mắt thường khó nhìn thấy được – chúng chỉ là những chấm rất nhỏ - nằm bất động mơ màng trên mặt biển phẳng lặngcách bờ không xa lắm. Còn xa hơn nữa, hệt như đang treo trong không khí, là một chiêc thuyền lớn ba cột buồm, những lá buồm trắng cân đối, đơn điệu một màu, hứng gió căng phồng treo trên cột buồm suốt từ trên xuống dưới.

- Chị rất hiểu em, - Vêra trầm ngâm nói. – Nhưng ở chị có một cái gì đó không như em. Lần đầu tiên sau một thời gian dài chị trông thấy biển, nó làm chị vừa xúc động, vừa vui mừng, vừa kinh ngạc. Dường như lần đầu tiên chị được trông thấy một điều kì diệu lớn lao và hùng vĩ. Nhưng sau đó, khi đã quen với biển, nó bắt đầu làm chị có cảm giác nặng nề bởi cái khoảng không trống rỗng và bằng phẳng… Khi nhìn nó chị thấy buồn, nên cố không nhìn nữa. Nó sẽ chỉ làm cho chị chán hơn.

Anna mỉm cười.

- Em cười gì thế? – Vêra hỏi.

- Mùa hè năm ngoái, - Anna ranh mãnh nói, - chúng em kéo cảđoàn đi chơi ngựa từ Ianta đén Utsơ – Côs. Chỗ đó ở đằng kia kìa, sau khu lâm nghiệp phía trên thác nước ấy. Lúc đầu bọn em đi vào một đám mây, rất ẩm và nhìn không rõ, nhưng mọi người vẫn tiếp tục leo lên cao theo con đường nhỏ chạy giữa những cây thông. Bỗng nhiên rừng biến mất, và chúng em ra khỏi đám mây. Chị hãy tưởng tượng xem: một bãi bằng hẹp trên mỏm đá, còn dưới chân là vực sâu. Làng xóm tít xa trông không lớn hơn hộp diêm, còn rừng và vườn cây như những bãi cỏ nhỏ xíu. Cả một vùng thoai thoải thấp dấn xuống biển hiện ra trước mắt như trên tấm bản đồ địa lí. Và tiếp đó là biển! Trải dài tít tắp hàng trăm dặm. Em có cảm tưởng như mình đang treo trong không khí và sắp sửa bay lên. Ôi sao mà đẹp đẽ, sao mà lâng lâng! Em quay lại và trầm trồ nói với người dẫn đường: “Thế nào? Đẹp quá bác Xêit-ôclư nhỉ?” Nhưng ông ta chỉ chắt lưỡi: “ Ồ, thưa tiểu thư, tất cả những cái này đã làm cho tôi chán ngấy lên rồi. Ngày nào cũng trông thấy nó”.

- Cám ơn em đã kể cho chị nghe câu chuyện đó, - Vêra cười, - Nhưng không, chị chỉ nghĩ rằng, chúng ta, dân miền Bắc không bao giờ có thể hiểu được vẻ đẹp của biển. Chị rất yêu rừng. Em còn nhớ rừng của chúng ta ở Êgôrôpxki không? Chẳng lẽ có khi nào nó sẽ làm chúng ta phải buồn chán sao? Thông này! Rồi các loại rêu này!... Và nấm đại hồng nhung nữa chứ! Hệt như dệt bằng vải ta tăng điều thêu những hạt cườm trắng. Và im ắng đến … mát lạnh.

- Em thì sao cũng được, cái gì em cũng yêu cả, - Anna đáp lời. – Mà em yêu nhất là bà chị của em, bà chị Vêrenka thông minh và tốt bụng của em. Trên đời này chỉ có hai chị em mình là thân thiết với nhau thôi.

Nàng ôm xiết lấy người bà chị cả, ép sát vào mình, má kề bên má. Nhưng bỗng nàng như sực tỉnh:

- Không, em đúng là một con ngốc! Hai chị em mình hệt như trong tiểu thuyết, ngồi nói về thiên nhiên, và em quên bẵng mất món quà của em. Đây chị xem. Em chỉ sợ, không biết chị có thích không?

Nàng lấy từ trong ví xách của mình ra một cuốn sổ tay nhỏ bọc bằng bìa rất lạ: trên nền nhung xanh cũ đã sờn bạc vì thời gian nổi lên những hình thêu bằng chỉ vàng, phức tạp, tinh vi và đẹp đến lạ lùng – có lẽ đây là công trình say mê của một bàn tay nghệ sĩ kiên nhẫn và tài hoa. Cuốn sổ được gắn với một sợi dây chuyền bằng vàng mảnh như sợi chỉ; ở phía trong thay cho các trang giấy là những tấm bảng ngà voi vuông vắn.

- Ôi đẹp quá! Tuyệt vời! _ Vêra thốt lên và ôm hôn em. – Cam sơn em. Em tìm được cái vật quý giá này ở đâu thế?

- Ở một cửa hiệu bán đồ cổ. Chị biết đấy, em có cái thú là hay lục lọi trong các đống đồ bỏ đi. Và thế là em lôi ra được trong đó cuốn sổ ghi những lời cầu nguyện này. Chị xem đây, thấy không, đường hoa văn trang trí vẽ thành hình một cây thánh giá. Thật ra, em chỉ tìm thấy có một tờ bìa, phần còn lại là do em nghĩ thêm ra – các trảnguột, khuy móc, bút chì. Nhưng cái lão Mônline này, em nói mãi vẫn không chịu hiểu. Cái khuy móc đáng ra cũng cần phải cùng một phong cách với hình thêu, mầu mờ đục bằng vàng cũ, nét khắc tinh tế. Thế mà có trời biết ông ta đã làm ra cái gì thế này. Nhưng được cái sợi dây chuyền lại là của Vênêdơ chính cống, rất cổ.

Vêra âu yếm vuốt nhẹ lên mặt bìa của cuốn sổ tuyệt đẹp.

- Ôi, quả là nó cổ thật đấy, quyển sổ này phải đến bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? – nàng hỏi.

- Em không dám nói chính xác. Ước chừng từ cuối thế kỉ mười bảy đến giữa thế kỉ mười tám…

- Kì lạ thật, - Vêra nói với một nụ cười trầm tư. - Có nghĩa là bây giờ chị đang cầm trong tay mình một vật có thể là đã chạm đến tay nữ hầu tước Pompađour hay chính tay hoàng hậu Antoinet… Nhưng Anna, em biết không, chỉ có em mới nghĩ ra cái trò ngộ nghĩnh biến quyển sách thánh thành carnet phụ nữ như thế này. Nhưng thôi, ta vào nhà xem tình hình trong ấy ra sao rồi.

Họ đi vào nhà qua một khoảng hiên lớn lát đá có giàn nho Izabella rậm rạp che kín bốn bề. Những chùm nho đen mọng nước, phảng phất mùi dâu tây, nặng trĩu treo giữa tán lá xanh thẫm, đôi chỗ như được tia nắng mặt trời nhuộm mầu. Một làn ánh sáng mầu xanh bao trùm lên toàn bộ khoảng thềm làm cho khuôn mặt của hai chị em lập tức tái nhợt đi.

- Chị cho dọn bàn ở đây chứ? – Anna hỏi.

- Lúc đầu chị cũng đã nghĩ như thế … nhưng bây giờ về chiều trời lạnh lắm. Tốt hơn là ta vào phòng ăn. Còn ở đây để cánh đàn ông ra hút thuốc.

- Có người nào thú vị không hả chị?

- Chị cũng không rõ nữa. Chị chỉ biết rằng ông của chúng ta sẽ đến.

- Ôi, ông yêu quý! Thế thì vui qua! – Anna vung tay kêu lên. – Em hình như đã đến hàng trăm năm rồi chưa được gặp ông đấy.

- Có chị của Vaxia, và hình như có cả giáo sư Xpesnicôp nữa. Hôm qua, Annenka ạ, chị cứ loay hoay mãi. Em biết đấy, ông và giáo sư, hai người đều thích các món ăn ngon. Nhưng cả ở đây lẫn trong thành phố, có tiền mà không thể mua được cái gì ra hồn hết. Bác Luka không hiểu kiếm ở đâu ra mấy con cun cút - chắc là mua lại của lão đi săn quen biết – và đang chế biến một món gì đó. Rôtbif may kiếm được loại không đến nỗi tồi – đó là một món không thể nào thiếu. Tôm thì rất khá.

- Thôi, không sao, thế cũng đã tốt rồi. Chị đừng lo. Mà nói riêng với chị, em cũng có cái tật thích ăn ngon đấy.

- Nhưng cũng sẽ có vài món hiếm. Sáng nay một người đánh cá mang đến con “hải kê”. Chính chị đã trông thấy. Đúng là một con quái vật. Nhìn phát sợ.

Anna tính vốn tò mò đến mọi chuyện liên quan và không liên quan tới mình, liền lập tức đòi phải mang con hải kê đến cho nàng xem.

Luka, lão đầu bếp cao lớn, tóc cạo trọc, da mặt vàng bủng, bưng đến một máng nước lớn và dài, hai tay giữ chặt lấy quai, cố để nước không sánh ra sàn nhà bằng gỗ.

- Mười hai phuntơ rưỡi đấy, thưa bà. – ông nói với vẻ tự hào đặc biệt của người đầu bếp. - Chúng tôi vừa mới đem cân lên.

Con cá quá lớn so với cái máng và nằm dưới đáy, đuôi vểnh ngược lên. Vẩy của nó mầu vàng, vây đỏ rực, còn từ cái mồm dữ tợn và rất to chạy về hai phía là đôi cánh dài mầu xanh dịu có nếp gấp to như rẻ quạt. Con hải kê vẫn còn sống và cặp mang thở phập phồng liên hồi.

Anna thận trọng đưa ngón tay bút chạm vào đầu cá. Nhưng nó bỗng bất ngờ quật mạnh đuôi, và nàng hét lên rụt tay lại.

- Xin bà đừng lo, tất cả sẽ được sắp xếp chu đáo ạ, - ông lão đầu bếp, dường như hiểu được nôic lo lắng của Anna, nói. - Một người Bungari vừa mang đến hai quả dưa thơm như dứa ấy. Nó giống dưa hấu, nhưng mùi thích hơn nhiều. Và tôi còn muốn xin ý bà, dùng thứ nước xốt nào cho món hải kê này ạ? Xốt Tacta hay xốt Ba Lan, hay là chỉ đơn giản bít cốt dầm bơ?

- Tuỳ ông. Thôi đi làm đi! - Nữ công tước ra lệnh.